Câu chuyện của Agribank trong vụ "đại án" ngàn tỷ, quan điểm cá nhân của một kiểm toán viên

Trong những ngày gần đây, báo chí “bận rộn” trong việc đưa tin liên quan đến vụ án sai phạm tại Ngân hàng Agribank Chi nhánh 6 cũng như các thông tin bên lề (cả chính thống lẫn ngoài luồng) về vụ “đại án” này. Đọc các thông tin được truyền tải trên báo chí về nội dung của vụ án, đứng dưới góc nhìn cá nhân của một kiểm toán viên đã tham gia nhiều cuộc kiểm toán các ngân hàng tại Việt Nam đặc biệt trong việc rà soát tín dụng, mình đề cập đến một số vấn đề và mang tính chất chủ quan sau:

1. Quy trình và việc tuân thủ quy trình cho các hoạt động liên quan đến tín dụng:

Ngành ngân hàng là một trong những ngành nghề kinh doanh được áp dụng các quy trình quản lý và quy trình kiểm soát sớm nhất tại Việt Nam do đặc tính rủi ro của ngành nghề, đặc biệt là các quy trình về phê duyệt tín dụng, kiểm soát giấy tờ có giá cũng như quản lý tín dụng sau khi cho vay.

Việc thực hiện kiểm toán dựa trên phương pháp risk-based approach luôn đòi hỏi người Kiểm toán viên phải tìm hiểu về quy trình và hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng cũng như thủ tục kiểm tra quy trình, hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm giảm thiểu rủi ro sai sót trọng yếu có thể xảy ra. Tín dụng ở các ngân hàng thương mại Việt Nam luôn là sản phẩm chủ lực do vậy chỉ cần một sai sót trong việc thực hiện các quy trình này sẽ có thể mang lại hậu quả to lớn. Tiếc rằng tại thời điểm trong giai đoạn 2001-2008 không nhiều công ty kiểm toán thực hiện theo phương pháp risk-based approach tại Việt Nam.

Với bản chất hoạt động tín dụng tại Việt Nam từ trước tới nay, cho vay có tài sản đàm bảo luôn là một trong những điều kiện tiên quyết trong quy trình xét duyệt các khoản vay (mặc dù đã có nhiều khuyến khích về việc cho vay theo dự án, không cần tài sản đảm bảo từ phía cơ quan quản lý), đặc biệt là các khoản vay có giá trị lớn và cho vay theo dự án bất động sản. Nhận thấy những rủi ro trong việc xử lý và quản lý tài sản đảm bảo, Chính phủ đã có những quy định từ những năm 1999-2000 về việc quy định đăng ký giao dịch đảm bảo nhằm giảm thiểu rủi ro liên quan đến việc một tài sản được mang đi cầm cố, thế chấp ở nhiều nơi (Nghị định 08/2000/ND-CP ngày 10 tháng 3 năm 2000 là một ví dụ).

Sự việc ở Agribank CN6 cho thấy tại thời điểm 2006-2007, việc cho vay mà không đăng ký giao dịch đảm bảo là đã vi phạm các quy định của pháp luật và rủi ro về việc dùng một tài sản thế chấp ở nhiều nơi đã xảy ra và đơn vị chịu hậu quả là Agribank CN6. Nếu Agribank CN6 có thực hiện đăng ký giao dịch đảm bảo thì tài sản đó chắc chắn không thể được mua bán, chuyển nhượng và cầm cố ở một bên thứ 3 (Vì trên giấy tờ sổ đỏ sẽ ghi tài sản đang được cầm cố). Do vậy việc Agribank CN6 đòi Phương Nam Bank phải hoàn trả nghe chừng không hợp lý cho lắm, trừ khi họ có bằng chứng về việc đã thực hiện giao dịch đảm bảo.

Kiểm toán viên luôn phải kiểm tra các quy trình và tính tuân thủ khi rà soát tín dụng và lựa chọn mẫu để kiểm tra chi tiết quy trình. Với giá trị lớn tại thời điểm 2006-2007 (vượt hạn mức phê duyệt chi nhánh) thì khoản vay này chắc chắn sẽ là lựa chọn số một đối với kiểm toán trong việc rà soát tín dụng. Liệu có phải ở đây có sự không tuân thủ đúng quy trình hoặc khoản vay này không đủ mức trọng yếu nằm trong soát xét của kiểm toán? Cũng có thể ý kiến của kiểm toán đưa ra nhưng đã được ban lãnh đạo ngân hàng cho vào ngăn bàn vì không quá quan trọng?

2. Tài sản đảm bảo vay vốn, định giá và cập nhật giá trị theo định kỳ:

Đặc thù của hoạt động ngân hàng của Việt Nam chủ yếu là hoạt động tín dụng với thu nhập từ lãi tiền vay tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cơ cấu thu nhập của một ngân hàng và trong hoạt động tín dụng thì việc vay vốn có tài sản thế chấp gần như là điều kiện tiên quyết trong việc quyết định có được vay vốn hay không.

Tài sản đảm bảo có thể có nhiều loại như thư bảo lãnh, đảm bảo bằng tài sản là bất động sản đã hình thành, bất động sản hình thành trong tương lai, động sản hoặc các giấy tờ có giá như sổ tiết kiệm, chứng khoán, hoặc các chứng từ thu nợ, v.v. Với các loại tài sản như sổ tiết kiệm, chứng khoán, chứng từ thu nợ hoặc thư bảo lãnh, việc xác định giá trị của tài sản sẽ đơn giản hơn rất nhiều trong quá trình xét duyệt hồ sơ vay vốn. Tuy nhiên, với các tài sản là bất động sản đã hình thành hoặc bất động sản hình thành trong tương lai, việc xác định giá trị của các tài sản này gặp nhiều khó khăn, và phụ thuộc nhiều vào cảm tính của người phê duyệt tín dụng.

Câu chuyện về việc định giá tài sản ở Agribank CN6 cũng như rất nhiều ngân hàng khác trong quá trình xét duyệt hạn mức vay vốn luôn có sự tác động chủ quan của những người trong cuộc và giá trị có khả năng sẽ được định giá ở mức cao hơn so với giá trị thật của tài sản. Rất nhiều ngân hàng đã thực hiện việc thuê các công ty chuyên về thẩm định giá để thực hiện làm báo cáo thẩm định giá trị tài sản đảm bảo để hạn chế rủi ro nhưng câu chuyện tại Leasing II (cũng là của Agribank) cho thấy cho dù có thuê bên thứ ba chuyên nghiệp để định giá thì câu chuyện về giá tài sản đảm bảo cũng không thực sự chắc chắn.

Việc định giá tại thời điểm phê duyệt vay vốn chưa phải là câu chuyện cuối cùng trong quá trình quản lý tín dụng. Việc thường xuyên cập nhật lại giá trị tài sản đảm bảo cũng là câu chuyện mà không phải ngân hàng nào cũng thực hiện được. Tài sản bảo đảm có thể là những loại hàng hoá có khả năng giảm giá nhanh hoặc khả năng thu hồi thấp nếu gặp khó khăn kinh tế sẽ luôn phải được rà soát và cập nhật. Tài sản là bất động sản nếu gặp phải thời kỳ bất động sản đóng băng sẽ là một vấn đề đau đầu đối với các ngân hàng khi xử lý tài sản đảm bảo. Với tài sản bảo đảm là hàng hoá, hàng tồn kho, việc giảm giá đột ngột cũng sẽ tác động không nhỏ đến giá trị tài sản bảo đảm và chắc chắn các ngân hàng sẽ đều phải lưu ý đến vấn đề này.

Kiểm tra sử dụng vốn và trạng thái tài sản đảm bảo cũng thực sự là vấn đề. Qua câu chuyện Agribank CN6 cho thấy cán bộ tín dụng dường như không xem xét vấn đề này hoặc chỉ xem qua loa và hợp thức hoá giấy tờ. Chúng ta thấy nhiều câu chuyện khi một doanh nghiệp kinh doanh cà phê hoặc hạt điều đột nhiên được các ngân hàng lao tới tranh nhau đống hàng tồn kho do chủ doanh nghiệp bỏ trốn hoặc bị bắt. Đó có thể là những tài sản bảo đảm cho các khoản tín dụng tại ngân hàng, nhưng khi đến kiểm tra dường như không còn gì nữa.

Một câu chuyện về tài sản bảo đảm là các nguyên vật liệu nhập khẩu để tiến hành sản xuất như phôi thép với 1 doanh nghiệp cán thép xây dựng. Trên sổ sách về tài sản bảo đảm luôn là các phôi thép, nhưng thực tế, doanh nghiệp đó sẽ phải đưa phi thép đó vào cán thép thành phẩm và có khi thép thành phẩm đã được xuất bán đi rồi, liệu tài sản đó còn tồn tại hay không? Trong quá khứ, nhiều đơn vị cho vay và tài sản bảo đảm là phi thép và có thời gian cầm cố là từ 9 đến 12 tháng, thực sự không phù hợp với chu trình kinh doanh cũng như sự tồn tại của các tài sản này trên thực tế. Có một vài đơn vị đã gặp phải những khó khăn không hề nhỏ đối với các khách hàng này trong quá khứ.

3. Vai trò của Kiểm toán viên, năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp

Với những câu chuyện điển hình trong ngành ngân hàng những năm vừa qua, đặc biệt trong năm 2014-2015, dường như vai trò của các kiểm toán viên trong các vụ “đại án” này dường như không thấy bất cứ báo chí hoặc cơ quan có thẩm quyền nào đề cập đến. Ngành ngân hàng là ngành có lợi ích công chúng và việc thực hiện kiểm toán là điều bắt buộc nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, người gửi tiền và các bên có liên quan.

Vai trò của Kiểm toán độc lập nhằm giúp cho ban quản trị của công ty có thể thấy được những lỗ hổng trong hệ thống kiểm soát, quy trình của doanh nghiệp mình và cách thức khắc phục trong tương lai. Đưa ra những bút toán điều chỉnh phù hợp dựa trên năng lực chuyên môn và xét đoán nghề nghiệp nhằm đảm bảo số liệu tài chính của một đơn vị được kiểm toán được trình bày một cách trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập thực hiện đúng vai trò nhiệm vụ của mình, việc xảy ra các “đại án” như vậy chắc sẽ giảm thiểu đáng kể, nâng cao niềm tin của các nhà đầu tư, người gửi tiền và các bên có liên quan. Để làm được điều đó, ngoài năng lực chuyên môn thì người kiểm toán viên độc lập, kiểm toán nội bộ cũng cần phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của nghề kiểm toán.

Kết luận:

Có rất nhiều khía cạnh khác có thể đề cập đến, tuy nhiên để tránh được những rủi ro xảy ra, việc xây dựng quy trình kiểm soát tối ưu, tính tuân thủ quy trình và cơ chế giám sát thông qua kiểm toán nội bộ, kiểm toán độc lập và đạo đức nghề nghiệp trong kinh doanh, trong điều hành cần được đưa lên hàng đầu.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s